Đầu năm 2025 mình bắt đầu đọc cuốn Daring Greatly của Brené Brown. Mình biết đến Brené từ Tedtalk huyền thoại của cô “The power of vulnerability” và đã nghe nó khoảng 10 năm trước. Mình không còn nhớ gì về bài diễn thuyết đó, nhưng cái mình ấn tượng nhất là Brené nói rằng: khi chúng ta tắt đi cảm xúc của mình lúc đối diện với nỗi buồn, thì đồng thời chúng ta cũng làm tê liệt cảm xúc của mình khi đối diện với niềm vui. Ta không thể chọn lọc việc mình muốn cảm thấy gì và không muốn cảm thấy gì, không có cái công tắc nào để ta có thể bật lên cảm nhận khi niềm vui tới hay tắt đi khi chúng ta đang khổ đau để bảo vệ bản thân mình khỏi những cảm giác khó chịu.
Sau Tedtalk đó mình không đọc hay nghe thêm gì từ nghiên cứu của Brené, mặc dù mình có biết đến những cuốn sách khá nổi tiếng của cô. Cho đến đầu năm 2025, khi mình đang tìm kiếm những cuốn sách viết về sự tự tin, thì mình thấy “Daring greatly” được giới thiệu nên đã đọc thử. Mình cảm thấy rất may mắn khi đọc cuốn sách này vào đúng thời điểm mình cần, khi mình đã nhiều trải nghiệm hơn để hiểu hơn nội dung được truyền tải.
Trước hết, mình muốn kể bạn nghe vắn tắt về hành trình dẫn đến cuốn sách này của Brené. Nghiên cứu ban đầu của cô là về connection – sự kết nối giữa người với người. Nhưng khi bắt đầu đi sâu hơn phỏng vấn, thu thập dữ liệu, Brené phát hiện ra mọi người thường không nói trực tiếp về sự kết nối, mà về nỗi sợ bị mất kết nối. Nỗi sợ này đến từ việc chúng ta sợ mình không xứng đáng có một mối quan hệ gắn bó tốt đẹp với người khác vì bản thân chúng ta không đủ tốt/ thông minh /đẹp/ … [điền bất cứ tính từ nào bạn nghĩ đến]. Nói một cách đơn giản: người ta sợ rằng sự bất hoàn hảo của mình là cái khiến họ không xứng đáng được nhìn nhận, lắng nghe, đồng cảm.
Brené định nghĩa nỗi sợ này là shame – sự hổ thẹn. Sự hổ thẹn khi người khác biết rằng mình không đủ tốt.
Bên cạnh shame, chúng ta cũng hay đối mặt với những cảm giác na na giống shame, nhưng không nguy hiểm như shame, đó là:
- Sự ngượng ngùng/quê (embarrassment): ví dụ như là đang bước tới chuẩn bị bắt tay đối tác thì bị vồ ếch một cú
- Sự xấu hổ/bẽ mặt (humiliation): ví dụ thay vì phê bình, góp ý riêng, sếp phê bình bạn trước toàn bộ công ty vì một lỗi bạn làm.
- Cảm giác tội lỗi/áy náy (guilt): ví dụ như hôm đó bạn bực bội ai đó nên đi “nấu xói” họ với người khác. Sau khi hạ hoả bạn nhận ra đây là điều mình không đúng không nên, và sẽ sửa đổi trong lần tới.
3 cảm giác trên đều không dễ chịu, nhưng khác shame ở chỗ chúng không làm cho bạn nghĩ rằng: mình là một người tồi tệ.
Người ta cũng hay nhầm lẫn guilt và shame. Guilt là khi ta cảm thấy tệ vì mình làm một việc xấu (I do a bad thing), còn shame là khi ta cảm thấy mình là một con người tệ (I am a bad person). Guilt sẽ chừa chỗ cho chúng ta thay đổi, cải thiện, sửa chữa. Shame chặn mọi cánh cửa dẫn tới sự tiến bộ. Khi cảm thấy hổ thẹn, ta sẽ tìm mọi cách để bảo vệ bản thân hoặc trốn tránh, và rồi dần dần mất niềm tin rằng mình có thể thay đổi hoặc trở thành một con người tốt hơn. Khi cảm thấy hổ thẹn, ta đổ lỗi. Bởi vì đổ lỗi đơn giản là trút sự khó chịu và tổn thương mình đang thấy lên người khác để mình không phải đối diện với nó nữa.
Brené cho rằng chúng ta đang sống trong một xã hội “không bao giờ là đủ” (”never enough” culture), nơi mà giá trị con người được đo đạc dựa trên điều kiện: thành công, vẻ bề ngoài, hiệu suất làm việc, sự tán thành…Văn hoá này vừa khắc sâu vừa khuếch đại shame, vì chúng ta rất dễ so sánh bản thân với người khác, hoặc với một tiêu chuẩn không thể chạm tới, dẫn đến việc lúc nào cũng phải phòng vệ tinh thần, chạy đua hụt hơi với người xung quanh, cố gắng gồng mình để hoàn hảo hoặc tìm mọi cách để che giấu khuyết điểm của mình. Nhưng trớ trêu là chính những lớp “áo giáp” này lại ngăn cản chúng ta có được thứ mình mong muốn nhất: sự kết nối chân thật.
Mặt đối lập của “never enough” không phải là sự dồi dào, thịnh vượng (abundance), mà chính là sự trọn vẹn (wholeheartedness). Để sống trong văn hoá “không bao giờ là đủ” mà không cảm thấy shame hay bị cuốn theo những cuộc đua không hồi kết, cái chúng ta cần làm là dám sống trọn vẹn với cả ưu lẫn khuyết của mình và biết rằng giá trị của chúng ta là giá trị vốn có, không phụ thuộc vào thành tích hay sự hoàn hảo.
Sống trọn vẹn trong định nghĩa của Brené nghĩa là:
- Tin rằng giá trị của bạn không cần điều kiện
- Bạn không cần gồng mình để hoàn hảo
- Sự kết nối quan trọng hơn là sự so sánh và chạy đua
- Dám sống vui và hạnh phúc dù không có gì là đảm bảo
Nếu chúng ta lớn lên trong môi trường mà sự yêu thương, chấp nhận và tôn trọng được đặt điều kiện bởi thành tích, sẽ rất khó để ta cho phép bản thân chấp nhận giá trị của mình là vô điều kiện. Dù có thể bây giờ hơi trễ, nhưng mình mong bạn nhận ra rằng giá trị của bạn tách rời hoàn toàn với những gì bạn đạt được. Điều này không có nghĩa là bạn nên sống một cuộc sống không cố gắng, không phấn đấu, không mục tiêu. Điểu mấu chốt là bạn không dùng thành tích làm thước đo mình “đáng giá” nhiều hay ít.
Vậy làm sao để sống trọn vẹn khi mà shame luôn hiện diện. Làm sao để đối đầu với shame một cách hiệu quả và xây dựng khả năng phục hồi/đề kháng với cảm giác hổ thẹn (shame resilience). Câu trả lời của Brené chính là dám mở lòng, chân thật, và đối mặt với rủi ro cảm xúc (vulnerability). Tức là bạn phải can đảm.
Định nghĩa “vulnerability” của Brené rộng hơn nghĩa đen của từ này. Trong mối liên hệ với shame và wholeheartedness, vulnerability xuất hiện khi bạn đối mặt với:
- Sự không chắc chắn: ví dụ như khi bạn dám thử làm một điều gì mới mình chưa từng làm và không biết kết quả của nó thế nào
- Rủi ro về mặt cảm xúc: ví dụ như khi bạn thổ lộ tình cảm của mình với người khác và có thể họ không hồi đáp khiến bạn thất vọng
- Sự phơi bày cảm xúc: ví dụ như khi bạn thú nhận rằng mình đang cảm thấy tức giận, lo lắng, sợ hãi…
Có những lúc vì không muốn đối mặt với vulnerability của bản thân, hoặc không thể chịu được cảm giác chứng kiến người mình quan tâm đang trong trạng thái vulnerable, chúng ta cố gắng dập tắt cảm xúc và nói với mình hoặc người khác rằng “chuyện chả có gì phải buồn” hoặc “thật là ngu ngốc khi đau khổ vì việc này/người này”. Nếu bạn đã từng làm vậy với chính mình, bạn biết rằng cảm xúc mà bạn đang dập tắt sẽ không biến mất, nhất là khi bạn không có một nơi an toàn để thành thật với những gì mình đang trải qua. Nếu bạn từng làm vậy với người khác (cho dù là với mục đích tốt), bạn có thể làm cho đối phương cảm thấy bản thân yếu đuối, ngu ngốc, hoặc hổ thẹn, và dần dần họ sẽ không muốn hoặc không dám chia sẻ với bạn nữa.
Vulnerability là cánh cửa dẫn đến sự kết nối, là khi chúng ta dám để cho người khác “nhìn thấy” mình. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta nên chia sẻ vô tội vạ, chia sẻ quá nhiều, chia sẻ với sai người. Vulnerability trước hết là một quá trình xây dựng lòng tin, và bạn phải cảm thấy được an toàn với đối tượng bạn muốn chia sẻ. Bạn chỉ nên vulnerable với người có thể chịu được sức nặng của những gì bạn muốn thổ lộ. Đôi khi vì quá khát khao sự kết nối, chúng ta chia sẻ quá mức (overshare). Sự chia sẻ quá mức này thường là với người không nên, không cần phải biết (thậm chí chưa chắc đã muốn nghe) câu chuyện của chúng ta: ví dụ như chia sẻ tổn thương thời thơ ấu của mình với người quen mới chỉ gặp một vài lần. Có thể vì chúng ta cảm thấy tin tưởng được người kia nên mới chia sẻ, nhưng trước khi phơi bày cảm xúc của mình, chúng ta có thể tự hỏi bản thân những câu hỏi sau:
- Mục đích thật sự của mình khi chia sẻ điều này là gì? Tại sao lại chia sẻ với người này, ở thời điểm này? Mình chia sẻ để kết nối hay để gây chú ý?
- Điều gì chi phối quyết định chia sẻ này của mình? Mình có đang cố gắng đạt được sự hồi đáp về mặt cảm xúc nào không?
- Mình có tôn trọng ranh giới của bản thân hay của người nghe không? Mình có đang “xả” lên người đó hoặc thao túng họ không?
Vulnerability cũng không nhất thiết phải có disclosure (sự tiết lộ). Chúng ta hoàn toàn có thể cảm thấy vulnerable ngay cả khi không ai thấy hoặc biết.
Nếu không có một nơi an toàn để giãy bày, vulnerability trước hết là sự có mặt và chấp nhận. Bạn có dám đối diện và thành thật chấp nhận cảm xúc của bạn không? Bạn có tin tưởng mình sẽ không châm chọc, xem nhẹ, phủ nhận cảm giác của chính mình không? Khi bạn trở thành nơi an toàn của chính bạn, là lúc bạn có thể đối mặt với rủi ro cảm xúc khi chia sẻ với người khác dễ dàng hơn. Vì bạn đã có thể chọn lựa kĩ càng hơn người mà bạn tin tưởng, bạn có thể chia sẻ từng chút một và xây dựng lòng tin theo thời gian mà không bị sự quá tải của cảm xúc làm cho mình chia sẻ sai người, sai mức độ.
Nếu bạn có thể vulnerable với người khác một cách an toàn, trong lúc bản thân vẫn đang đầy rẫy hoang mang, mình thật sự vui cho bạn, vì bạn có một mạng lưới hỗ trợ (support system) rất tốt.
Để giúp bạn dễ hình dung về 3 khái niệm chính mình vừa chia sẻ bên trên, mình sẽ tóm tắt mối liên hệ của các khác niệm này như sau:
Shame xuất phát từ nỗi sợ mình không xứng đáng được nhìn nhận và lắng nghe vì mình không đủ tốt.
Vulnerability củng cố shame vì khi chúng ta dám để cho người khác “nhìn thấy” mình, ta đối diện với những rủi ro và sự phơi bày về mặt cảm xúc, bao gồm rủi ro bị người khác đánh giá hoặc khước từ, khiến ta càng cảm thấy hổ thẹn.
Để xây dựng khả năng phục hồi sau hổ thẹn (shame resilience), ta cần chọn và thực hành sống trọn vẹn với cả ưu lẫn khuyết của mình (embracing wholeheartedness), và biết rằng mình đủ (enough). Để làm được điều này thì chỉ có một cách duy nhất là chúng phải can đảm đối diện với vulnerability. Tức là dẫu sống trong môi trường mà shame luôn chực chờ choán lấy chúng ta, thì sự can đảm đối diện với vulnerability (chứ không phải là chạy trốn) chính là con đường dẫn tới một cuộc sống trọn vẹn, dám chân thật, dám tổn thương, và tin vào giá trị vốn có của mình.
Dưới đây là diagram mình vẽ về mối liên hệ của các khái niệm:

Daring greatly là một hành trình từng chút một dám dũng cảm đối diện với rủi ro cảm xúc và học cách vững tin vào giá trị của mình. Dẫu có nhiều khó khăn, hoài nghi, sợ hãi, cái mà chúng ta đạt được trên con đường này đáng giá mọi thử thách mà chúng ta phải trải qua: đó là sự kết nối chân thật và bền chặt với chính bản thân mình và với người khác.
Mình gửi bạn một câu của cố ca sĩ-nhạc sĩ Leonard Cohen mà Brené cũng trích dẫn trong cuốn sách:
“There is a crack in everything. That’s how the light gets in.“
“Nếu tim ta chưa một lần nứt nẻ. Thì làm sao ánh sáng ghé vào thăm.”

Leave a comment